I. ĐẶT VẤN ĐỀ
	1. Lý do chọn đề tài
	Xã hội hiện đại có những thay đổi về kinh tế, văn hóa, xã hội và lối sống, một mặt sự phát triển của xã hội hiện đại làm cho chất lượng cuộc sống của con người ngày càng tốt hơn, nhưng mặt khác làm nảy sinh những vấn đề mới mà trước đây con người chưa gặp, chưa trải nghiệm, chưa biết cách đương đầu, đồng thời mức độ phức tạp, khó khăn của những vấn đề cũ đã gặp trước đây cũng có xu hướng tăng lên. Như vậy trong xã hội hiện đại con người càng cần có kỹ năng sống để thích nghi tốt hơn và nâng cao chất lượng cuộc sống.
	Giáo dục kỹ năng sống đang trở thành một nhiệm vụ quan trọng đối với giáo dục cả nước. Phương pháp dạy kỹ năng sống cho trẻ mầm non sẽ giúp trẻ làm chủ cuộc sống, sống an toàn, lành mạnh và có chất lượng hơn trong xã hội hiện đại với nền văn hoá đa dạng và kinh tế phát triển như hiện nay.
	Kỹ năng sống như¬¬ những nhịp cầu giúp con người biến kiến thức thành thái độ, giá trị, hành vi và thói quen lành mạnh. Vì vậy, cần dạy kỹ năng sống cho trẻ mầm non nói chung và trẻ 5 - 6 tuổi nói riêng ngay từ khi còn thơ bé nhằm giúp trẻ tự biết chăm sóc và bảo vệ bản thân tránh khỏi những nguy hiểm có thể xảy ra.
	Trẻ có thể hoà nhập nhanh với cuộc sống xung quanh, biết cách phát triển các mối quan hệ với mọi người, với thiên nhiên từ đó học hỏi và làm giàu có thêm vốn kiến thức, kinh nghiệm cũng như các kỹ năng của bản thân. Nếu thiếu các kĩ năng sống cần thiết, trẻ sẽ khó tránh khỏi những lúng túng, sai phạm thậm chí gặp nguy hiểm khi phải giải quyết các tình huống xảy ra trong cuộc sống hàng ngày. 
	Để giáo dục kỹ năng sống cho trẻ đòi hỏi mỗi giáo viên phải suy nghĩ sáng tạo trong việc lựa chọn nội dung, phương pháp dạy học theo theo chương trình giáo dục mầm non. Đặc biệt chú trọng phát triển năng lực cá nhân. Lấy trẻ và năng lực của trẻ làm trung tâm. Chính vì vậy, dạy không phải chỉ là dạy mà còn là rèn, trau dồi lối sống biết sẻ chia, vị tha trong trẻ. Vì vậy giáo dục kỹ năng sống cho trẻ trong mỗi nhà trường là cần thiết. 
Là giáo viên mầm non phụ trách lớp mẫu giáo lớn, nhận thức được tầm quan trọng của kỹ năng sống đối với sự phát triển của trẻ, tôi đã luôn trăn trở suy nghĩ làm thế nào để giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5 – 6 tuổi. Giáo dục kỹ năng sống không phải là nói cho trẻ biết thế nào là đúng, thế nào là sai như ta thường làm. Các phương pháp cổ điển như bài giảng đi theo những chuẩn mực, cô hỏi trẻ thụ động trả lời sẽ hoàn toàn thất bại vì chúng chỉ cung cấp thông tin, mà từ thông tin và nhận thức đến thay đổi hành vi thì khoảng cách còn rất lớn. Giáo dục kỹ năng sống là giúp trẻ nâng cao năng lực để tự lựa chọn những giải pháp khác nhau. Giải quyết phải xuất phát từ trẻ. Chính vì vậy, trong năm học 2018-2019 này tôi chọn đã lựa chọn đề tài “ Giải pháp tối ưu giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5 – 6 tuổi lớp A2 Trường mầm non Vạn Giã” với mục đích nâng cao hiệu quả giáo dục kỹ năng sống cho trẻ ở lớp tôi phụ trách.
	2. Lịch sử của đề tài
Việc nghiên cứu những giải pháp tối ưu để nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng sống ở trẻ mầm non nói chung và trẻ 5-6 tuổi lớp A2 Trường Mầm non Vạn Giã nói riêng, ở trường tôi chưa được tiến hành nghiên cứu đưa ra những sáng kiến mới để được công nhận. Tuy nhiên trên mạng xã hội vẫn có những bài viết đưa ra những kinh nghiệm là chính. Chính vì vậy, trong năm học 2018 – 2019 được sự đồng ý của Ban giám hiệu Trường Mầm non Vạn Giã tôi đã mạnh dạn chọn đề tài“ Giải pháp tối ưu giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi lớp A2 Trường mầm non Vạn Giã” với mục đích nâng cao hiệu quả tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống ở lớp tôi phụ trách.
	3. Mục đích nghiên cứu
	Đánh giá thực trạng giáo dục kỹ năng sống trên trẻ 5 – 6 tuổi lớp Lớn A2 Trường Mầm non Vạn Giã. Qua đó xây dựng một số giải pháp tối ưu giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua các hoạt động.
	Đề xuất một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5 – 6 tuổi trong trường mầm non nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ở trường mầm non trong hiện tại và những năm tiếp theo.
	Giúp trẻ phát triển toàn diện về mọi mặt, hình thành cho trẻ những phẩm chất cơ bản, bước đầu đặt nền móng cho sự phát triển giúp trẻ tự tin khi bước chân vào trường tiểu học.
	Trẻ hứng thú học tập, yêu mến cô, yêu mến trường, từ đó phụ huynh tin tưởng, xã hội quan tâm. Các ngành, các cấp, chính quyền, cùng hợp sức xây dựng nhà trường để làm tốt công tác giáo dục đạt kết quả cao.
	4. Nhiệm vụ và giải pháp nghiên cứu
	4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
	Trong một thời đại hội nhập, phát triển năng động như hiện nay, việc đưa giáo dục kỹ năng sống cho trẻ vào giảng dạy là rất cần thiết và được khuyến khích rất nhiều. Đặc biệt khi lồng ghép giáo dục kỹ năng sống vào các hoạt động cho trẻ mầm non sẽ tạo ra những điều mới lạ, kích thích sự tò mò, ham học hỏi của trẻ, tạo cho trẻ sự thích thú, trẻ sẽ tập trung chú ý, giờ hoạt động sẽ cho kết quả tốt nhất.
	Thông qua các hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi, cô giáo giúp trẻ hình thành phẩm chất, đặc điểm quí báu như: tự lập, lòng nhân ái, tốt bụng, chu đáo, quan tâm… và một số kỹ năng sống cần thiết khác chuẩn bị tâm thế vào lớp 1 và bước vào một môi trường xã hội rộng lớn hơn.
	4.2 Phương pháp nghiên cứu
	Phương pháp nghiên cứu thực hiện chương trình của lứa tuổi mẫu giáo. 
	Phương pháp nghiên cứu thực tiễn trên trẻ.
	Phương pháp thống kê toán học
	Đọc và sử dụng các tài liệu, sách báo, tạp chí giáo dục mầm non, mạng internet có liên quan đến đề tài.
	5. Giới hạn nghiên cứu
	Phạm vi nghiên cứu: Đối với trẻ 5 - 6 tuổi lớp lớn A2 Trường Mầm non Vạn Giã, năm học 2018 – 2019.
	Kế hoạch nghiên cứu: Bắt đầu từ ngày 10 tháng 9 năm 2018 và kết thúc vào ngày 30 tháng 11 năm 2018. 
	6. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu
	Trẻ hứng thú với hoạt động giáo dục kỹ năng sống, giúp trẻ hình thành phẩm chất đặc điểm quí báu như: lòng nhân ái, tốt bụng, chu đáo, quan tâm, kỹ năng sinh hoạt nhóm…
	Đặc biệt hơn hết là đã nhận được sự ủng hộ rất nhiệt tình của các đồng nghiệp, các bậc phụ huynh.
	II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
	1. Cơ sở lý luận của vấn đề
	1.1 Khái niệm giáo dục kỹ năng sống
	Giáo dục kỹ năng sống là một quá trình tác động sư phạm có mục đích, có kế hoạch nhằm hình thành năng lực hành động tích cực, có liên quan tới kiến thức và thái độ, giúp cá nhân có ý thức về bản thân, giao tiếp, quan hệ xã hội, thực hiện công việc, ứng phó hiệu quả với các yêu cầu thách thức của cuộc sống hàng ngày.
	1.2 Vai trò của giáo dục kỹ năng sống
	Giáo dục kỹ năng sống là rất quan trọng và cần thiết cho trẻ nhỏ. Giáo dục kỹ năng sống giúp cho trẻ phát triển nhân cách, thể chất, tình cảm, giao tiếp, ngôn ngữ, tư duy một cách toàn diện, là nền tảng để trẻ tự tin bước vào giai đoạn tiểu học.
	Về thể chất: giáo dục kỹ năng sống giúp cho trẻ tăng cường thể chất, sự kiên trì, bền bỉ, tháo vát… thông qua các bài học và các hoạt động vận động trong quá trình dạy kỹ năng sống. Trẻ sẽ được rèn luyện sự dẻo dai, khéo léo, kiên trì, giúp cho trẻ nhanh thích ứng với các điều kiện sống thay đổi
	Về tình cảm: giáo dục kỹ năng sống giúp trẻ biết lắng nghe, chia sẻ, sống có trách nhiệm, biết yêu thương, biết ơn công lao của cha mẹ.
	Về giao tiếp-ngôn ngữ: giáo dục kỹ năng sống cho trẻ giúp trẻ tự tin, giao tiếp hiệu quả, đặc biệt rèn luyện cho trẻ biết lắng nghe, nói chuyện lễ phép, hòa nhã.
	 Về nhận thức: giáo dục kỹ năng sống giúp cho trẻ có một nền tảng kiến thức, ham mê hiểu biết, khám phá, xây dựng cho trẻ niềm ham mê học tập suốt đời.

	Giáo dục kỹ năng sống giúp trẻ có bước đệm chuẩn bị sẵn sàng cho giai đoạn tiểu học: việc giáo dục kỹ năng sống từ sớm giúp trẻ có khả năng thích nghi với sự thay đổi môi trường sống, khả năng hòa nhập nhanh, giúp trẻ tự tin bước vào lớp 1.
	Theo một số nghiên cứu cho thấy, các kỹ năng sống khác nhau theo địa lý, thời gian…ví dụ như trẻ em vùng biển thì có một số kỹ năng sống khác với trẻ em vùng núi, kỹ năng sống của trẻ em thành phố khác với kỹ năng sống trẻ em nông thôn, kỹ năng sống của trẻ em ngày xưa khác với kỹ năng sống trẻ em bây giờ. 
	Tuy nhiên có thể thấy rất rõ ràng là kỹ năng sống luôn gắn bó với các giá trị. Các giá trị sống đúng đắn là kết tinh được truyền lại như sự tôn trọng, sống trách nhiệm, yêu thương, sự tự tin, sự sáng tạo, lòng ham hiểu biết… các giá trị này được truyền lại nhằm giáo dục giúp cho con người sống có chuẩn mực và góp phần vào sự tiến bộ của xã hội.
	1.3 Đặc trưng của kỹ năng sống
	 Kỹ năng sống là khả năng con người biết cách sống phù hợp và hữu ích, là khả năng con người dám đương đầu với những tình huống khó khăn trong cuộc sống và biết cách vượt qua, là kỹ năng tâm lý xã hội, con người biết quản lý bản thân mình và tương tác tích cực với người khác, với xã hội.
	1.4 Một số kỹ năng cơ bản giáo dục kỹ năng sống cho trẻ
	Có nhiều cách phân loại kỹ năng sống khác nhau. Tuy nhiên, kỹ năng sống thường không tồn tại độc lập, mà thường có mối quan hệ mật thiết với nhau, đan xen và bổ sung cho nhau. Có thể tổng kết một số kỹ năng sống cơ bản như: Kỹ năng tự nhận thức; kỹ năng giao tiếp; kỹ năng xác định giá trị; kỹ năng xác định mục tiêu; kỹ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề; kỹ năng xử lý căng thẳng; kỹ năng tư duy tích cực.
	2. Thực trạng của vấn đề
	2.1 Thuận lợi
	Được sự chỉ đạo sát sao về chuyên môn của Phòng Giáo dục: Tham gia những buổi sinh hoạt chuyên môn cụm, cấp phát một số tài liệu về bồi dưỡng chuyên môn có liên quan đến giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. 
	Ban giám hiệu luôn quan tâm tới chuyên môn, bồi dưỡng phương pháp, đổi mới hình thức tổ chức hoạt động giáo dục mầm non, tạo mọi điều kiện giúp tôi thực hiện tốt chương trình giáo dục mầm non mới.
	Là một giáo viên yêu nghề, mến trẻ, tận tình với công việc. Tôi thường xuyên tìm tòi, nghiên cứu tài liệu như tạp chí, thông tin trên mạng có liên quan đến việc chăm sóc giáo dục trẻ để áp dụng vào việc chăm sóc giáo dục trẻ hằng ngày nhất là việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ.
	2.2 Khó khăn
	2.2.1 Về phía trẻ
	Trẻ chưa mạnh dạn tự tin trong giao tiếp và trong công việc, thiếu sự hợp tác, kỹ năng học tập chưa cao, giao tiếp và quan hệ xã hội chưa tốt.
	Quá trình khảo sát, tôi thu được kết quả như sau:
TTT	
Nội dung	Đạt	Chưa đạt
		Số trẻ	Tỉ lệ %	Số trẻ	Tỉ lệ %
11	Mạnh dạn tự tin trong giao tiếp 	15/39	38,5%	24/39	61,5%
22	Kỹ năng tự tin trong công việc	16/39	41%	23/39	56%
33	Kỹ năng học tập 	18/39	46,2%	21/39	53,8%
44	giao tiếp và quan hệ xã hội	14/39	35,9%	25/39	64,1%
55	Trẻ tích cực tham gia vào hoạt động	17/39	43,6%	22/39	56,4%

2.2.2 Về giáo viên
	Không nói cho trẻ biết tại sao trẻ nên làm như vậy, chỉ dạy trẻ kỹ năng mềm dựa trên lý thuyết, thiếu kiên nhẫn khi dạy trẻ, bản thân giáo viên không làm gương cho trẻ
Tổ chức hoạt động còn đơn điệu, chưa thu hút được sự chú ý của trẻ vào hoạt động kỹ năng sống.
2.2.3 Về phía phụ huynh 
Một số phụ huynh chưa hiểu được tầm quan trọng của giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5 - 6 tuổi, chỉ chú ý đến việc học chữ của trẻ ở trường, chưa mạnh dạn giao việc cho trẻ làm, ít quan tâm trò chuyện đến trẻ, thời gian trẻ ở nhà thường cho trẻ chơi điện thoại và thao tác trên máy tính bảng, xem ti vi… mà chưa chú ý đến giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. 
	3. Các biện pháp tiến hành giải quyết vấn đề
	3.1 Nâng cao nhận thức về việc dạy kỹ năng sống cho trẻ mầm non
	Công tác bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ nói chung và kỹ năng giáo dục kỹ năng sống cho trẻ nói riêng là nhiệm vụ vô cùng quan trọng. Nhằm rèn luyện nhân cách, tư duy tích cực, hình thành thói quen tốt thông qua các bài tập và hoạt động trải nghiệm. Giúp trẻ có kỹ năng làm chủ bản thân và ứng xử phù hợp với mọi thứ xung quanh và có kỹ năng ứng phó tích cực trước tình huống của cuộc sống; trẻ có kinh nghiệm trong cuộc sống, biết được những điều nên làm và những điều không nên làm, giúp trẻ tự tin, chủ động và cách xử lý các tình huống trong cuộc sống, giúp trẻ nhận thức về bản thân, biết thực hiện những quy tắc an toàn thông thường, biết làm một số việc đơn giản, hình thành và phát triển các kỹ năng xã hội cần thiết: thể hiện tình cảm, sự chia sẻ, hợp tác kiên trì, vượt khó, hình thành một số kỹ năng ứng xử phù hợp với gia đình, cộng đồng, bạn bè và môi trường. 
	Nhận thức được tầm quan trọng, tôi đã không ngừng học hỏi đồng nghiệp thông qua các tiết dự giờ thao giảng khối, các buổi sinh hoạt chuyên đề do tổ, trường và phòng giáo dục tổ chức. Ngoài ra, tôi còn nghiên cứu qua sách báo tài liệu, tạp chí mầm non…. Nhằm nâng cao năng lực tổ chức hoạt động kỹ năng sống cho trẻ một cách tối ưu nhất. Nhằm đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi và sự tham gia của cộng đồng và cha mẹ trẻ, tạo sự thống nhất giữa nhà trường, gia đình và xã hội cùng chăm lo giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. (H1 - Tr6) 
	3.2 Gây hứng thú cho trẻ khi tham gia hoạt động kỹ năng sống
	Như ta đã biết, hứng thú là nhu cầu mang tính xúc cảm cao của trẻ và nó có trước khi có động cơ hoạt động. Khi trẻ hứng thú với một việc gì đó thì trẻ sẽ nảy sinh động cơ, tham gia hoạt động một cách tích cực và mang lại hiệu quả cao. Đối với hoạt động dạy kỹ năng sống cũng vậy, để có được kết quả tốt thì giáo viên cần tập trung gây hứng thú cho trẻ khi tổ chức hoạt động. Và tôi đã tìm ra một số biện pháp gây hứng thú cho trẻ như sau:
	Như chúng ta đã biết, việc cung cấp cho trẻ các hình ảnh trực quan sinh động, nhiều màu sắc trong tiết học sẽ tạo được ấn tượng mạnh, thu hút sự chú ý của trẻ nhiều hơn. Vì vậy, giáo viên cần quan tâm đến vấn đề thẩm mỹ của đồ dùng trực quan, nó không những giúp trẻ tiếp thu tốt những kiến thức giáo viên muốn cung cấp mà còn kích thích trẻ hoạt động tích cực hơn. (H2- Tr6)
	Yếu tố bất ngờ trong hoạt động sẽ lôi cuốn trẻ, làm cho trẻ cảm thấy vô cùng thích thú, hấp dẫn, kích thích trí tò mò, khám phá của trẻ. Yếu tố bất ngờ có thể là những chiếc hộp, chiếc túi, màn che đối tượng mà trẻ sẽ khám phá bằng các giác quan. Hoặc đó có thể là những món quà nho nhỏ mà trẻ được tặng sau khi hoàn thành một nhiệm vụ học tập.
	Khen ngợi, động viên trẻ kịp thời. Có thể nói đây là một yếu tố quan trọng trong việc tạo hứng thú cho trẻ hoạt động. Tuy nhiên, sự khen ngợi, động viên phải đúng lúc, kịp thời. Khi trẻ có những biểu hiện của việc tiếp thu và rèn luyện kỹ năng tốt, giáo viên cần khen ngợi để trẻ cảm thấy thích thú, tự hào và hăng hái hoạt động hơn. Còn với những trẻ có biểu hiện tiếp thu chậm, giáo viên cần động viên, khích lệ tinh thần, tạo cho trẻ lòng tin là mình có thể làm được, để từ đó trẻ cố gắng hết sức hoàn thành nhiệm vụ học tập.
Đối với trẻ mầm non, hoạt động vui chơi chiếm vai trò chủ đạo trong hoạt động của trẻ ở trường. Thông qua trò chơi, trẻ được phát triển các kỹ năng ý thức về bản thân, quan hệ xã hội, giao tiếp, thực hiện công việc, ứng phó với những thay đổi. Những trò chơi thường được sử dụng để giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo là trò chơi dân gian, trò chơi vận động, trò chơi sắm vai, trò chơi xây dựng, trò chơi đóng kịch, trò chơi trí tuệ. Giáo viên cần xác định những kỹ năng sống cần hướng dẫn trẻ, chọn trò chơi phù hợp với kỹ năng sống đó. (H 3 – Tr7)
Ví dụ : Ở góc “Gia đình”, khi tôi hướng dẫn trẻ đóng giả một người lạ đến gõ cửa khi trẻ ở nhà một mình, thì trẻ biết xử lý tình huống “Bố mẹ gần về, không có chìa khóa để mở cửa cho cô vào” và trẻ nhất định không được mở cửa đồng thời biết gọi điện thoại cho bố, mẹ hoặc người thân. (H 4 – Tr7)
3.3 Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ thông qua hoạt động trải nghiệm
	Việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ ngay từ khi còn nhỏ là việc làm cần thiết và có ý nghĩa thiết thực. Mỗi trẻ có những yếu tố cá nhân khác nhau và sự ảnh hưởng của các quan hệ xã hội cũng như hoàn cảnh sống, môi trường trải nghiệm khác nhau nên nhà giáo dục cần có những hình thức, biện pháp linh hoạt, hợp lý và tận dụng các điều kiện để tạo ra nhiều cơ hội cho trẻ được tự trải nghiệm.
	Với kỹ năng sống phong phú trẻ sẽ biết cách khai thác kiến thức từ cuộc sống xung quanh, tạo lập các mối quan hệ với tự nhiên và con người để sống an toàn, hòa bình và phát triển.Tôi luôn tạo cơ hội cho trẻ được trải nghiệm: để trẻ tự làm mọi việc cho bản thân mình càng nhiều càng tốt. Nhằm tận dụng các tình huống trong cuộc sống hằng ngày để “sai vặt” trẻ. 
Ví dụ: Sau khi trẻ chơi xong, trẻ để đồ chơi bừa bãi, cô không nên “dọn dẹp giúp” mà có thể hỏi trẻ: “Con đã cất đồ chơi chưa?”, “Con nhìn xem các bạn đang làm gì?”, “Con cùng cất đồ chơi với các bạn nhé?”, tự lấy đồ dùng học tập, hoặc cách trẻ nhờ một người bạn khác giúp đỡ. Dần dần tạo cho trẻ có kỹ năng cùng bạn sắp xếp đồ chơi gọn gàng, ngăn nắp…
Như ta đã biết, nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi khá đơn giản, nó gắn liền với chế độ sinh hoạt hàng ngày của trẻ. Thông qua mọi hoạt động giáo viên đều có thể dạy trẻ kỹ năng sống. 
	Ví dụ: Giờ ngủ, cô dạy trẻ biết trải và gấp chăn, nệm… Ngoài ra, khi cho trẻ ra hoạt động ngoài trời tôi còn tận dụng những hình ảnh trên tường để giáo dục trẻ các kỹ năng sống phù hợp. 
	Thông qua hoạt động vui chơi: vui chơi là hoạt động tạo cho trẻ nhiều hứng thú và cũng cho trẻ cơ hội được vận dụng nhiều kiến thức kĩ năng khác nhau vào giải quyết nhiệm vụ chơi. Trẻ được thử nghiệm nhiều vai trò khác nhau qua các vai chơi, được phát huy trí tưởng tượng, sáng tạo, học hỏi và hợp tác với các bạn cùng chơi… 	Ví dụ: Trong trò chơi gia đình trẻ phải điều hoà các mối quan hệ với 2 vai trò khác nhau: mối quan hệ với bạn cùng chơi (quan hệ thật) và quan hệ với các nhân vật trong trò chơi (quan hệ giả). Để trò chơi phát triển mỗi đứa trẻ đều phải cùng cố gắng hoàn thành tốt vai trò của mình đồng thời phải biết chia sẻ, hợp tác với các bạn khác. (H 5– Tr7 )
	Thông qua sinh hoạt hàng ngày: sinh hoạt hàng ngày của trẻ đa phần là những hoạt động lặp đi lặp lại. Vì vậy trẻ được rèn luyện nhiều và thực hiện các công việc đó một cách dễ dàng vì đã thành nếp sinh hoạt. Ngoài ra, trong sinh hoạt trẻ cũng gặp phải những vấn đề mới nảy sinh – đó chính là cơ hội quý để hình thành những kỹ năng sống mới.
	Thông qua xem phim, nghe kể chuyện: nội dung các bộ phim, câu chuyện phù hợp sẽ là gợi ý cho trẻ về cách cư xử đúng, cách giải quyết vấn đề hiệu quả.
	Thông qua hoạt động sáng tạo: Với trò chơi đóng vai, trẻ “nhập vai” và giải quyết tình huống giả định, giúp trẻ tập các kỹ năng sống một cách nhẹ nhàng, thú vị. 	
3.4 Cụ thể hoá những giải pháp để giáo dục kỹ năng sống cho trẻ
	3.4.1 Hình thành kỹ năng tự tin
	Theo Dale - một nhà văn, nhà thuyết trình nổi tiếng của Mỹ thì “Nếu bạn thực sự tin tưởng chính mình, nhất định sẽ có được ước mơ, bạn có thể bước trên con đường bằng phẳng mà người khác cũng sẽ cần bạn hơn”. Vì vậy, một trong những kỹ năng đầu tiên tôi đã quan tâm là phát triển sự tự tin, lòng tự trọng ở trẻ. Nghĩa là giúp trẻ cảm nhận được mình là ai, cả về cá nhân cũng như trong mối quan hệ với những người khác, trẻ tự tin làm theo ý tưởng, tự tin bày tỏ cảm xúc của mình với người khác mà không e ngại. Qua đó, sẽ giúp cho trẻ nhanh chóng thực hiện được mong muốn của mình đồng thời có khả năng hoà nhập với cộng đồng.
	Ví dụ: Khi trẻ xung phong lên hát, đọc thơ trước cả lớp, tôi đã khen ngợi là trẻ rất giỏi, rất mạnh dạn... để giúp trẻ lần sau trẻ muốn và không e ngại khi biểu diễn trước đám đông.
	Ngoài ra, để giúp trẻ phát triển sự tự tin của trẻ: tôi có thể trò chuyện với trẻ với những câu hỏi như tự tin là gì? Khi các con tự tin con cảm thấy như thế nào? Khi không tự tin con cảm thấy ra sao? Hoặc sử dụng những câu hỏi gắn với thực tế của trẻ như “các con hãy kể những việc con muốn tự làm. Con học cách làm này như thế nào? Hãy kể những việc con tự làm? Khi tự làm con cảm thấy như thế nào?”. 
	Qua hoạt động trò chuyện đó giúp trẻ hiểu rằng khi trẻ tự tin là khi trẻ mạnh dạn nói, làm, thể hiện cảm xúc và suy nghĩ của mình với mọi người. Nếu trẻ tự tin ở mình thì kết quả hoạt động của trẻ sẽ đạt tốt hơn.
	Bên cạnh đó tôi còn nói cho trẻ biết những việc trẻ có thể làm được. Khi trò chuyện với trẻ tôi luôn thể hiện sự chân thành, không quá lời khen, nghĩ một đường nói một nẻo. Qua đó, sẽ giúp cho trẻ tự tin hơn.
	Ví dụ: Trong giờ học thể dục với hoạt động “Trèo lên xuống thang” một số trẻ sợ độ cao nên không dám trèo lên xuống thang, tôi không ép buộc trẻ phải thực hiện ngay lập tức mà sẽ khuyến khích trẻ với lời động viên như “Con có thể trèo được…” để giúp trẻ tự tin thể hiện trước đám đông.
	Như chúng ta đã biết, mỗi đứa trẻ nếu không phạm sai lầm sẽ không thể trưởng thành. Cho nên, khi trẻ mắc sai lầm tôi luôn lưu tâm đến sai lầm đó để trao đổi thân thiện, cởi mở với trẻ giúp trẻ hiểu rằng ai cũng có thể mắc sai lầm nhưng điều quan trọng nhất là biết sửa chữa và không bao giờ mắc phải sai lầm đó nữa. Đồng thời, không phê bình hay chê bai trẻ quá thẳng thắn sẽ làm trẻ mất hứng thú và tự ti về bản thân mình.
	Ví dụ: Khi trẻ giành đồ chơi với bạn, tôi sẽ hỏi trẻ xem vì sao lại như vậy, tôi bày ra các trò chơi với món đồ chơi đó để 2 trẻ cùng được chơi với nhau. Sau đó hỏi 2 trẻ xem chơi cùng nhau như vậy có vui hơn là tranh giành nhau không và giáo dục trẻ lần sau nên chơi đoàn kết với bạn bè…
	Để giúp trẻ có được những hành vi tốt, ngay từ đầu năm học tôi đề ra một số quy định phù hợp với lớp học nhằm đạt được mục tiêu chăm sóc giáo dục trẻ, tạo thói quen nề nếp tốt cho trẻ. Yêu cầu trẻ trong lớp thực hiện theo các nội quy đó để tạo tính chủ động và làm việc có kế hoạch cho trẻ trong lớp.
	Ví dụ: đến giờ thể dục sáng, tôi hỏi trẻ các con nhìn lên lịch xem hoạt động đầu tiên trong ngày hôm nay là gì? Và cho trẻ cùng chuẩn bị hoạt động đó với cô.
	3.4.2 Hình thành kỹ năng hợp tác
	Ca dao tục ngữ Việt Nam có câu: 
“Một cây làm chẳng nên non,
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”
	Vì vậy, việc giáo dục kỹ năng hợp tác cho trẻ 5 - 6 tuổi là rất cần thiết. Bởi trẻ mầm non còn nhỏ, có nhiều việc không tự làm được nếu không có người khác giúp đỡ. Khi được giúp đỡ và khi trẻ giúp đỡ bạn trẻ sẽ nhanh chóng hoàn thành nhiệm vụ của mình. Qua đó trẻ có niềm vui, có bạn bên cạnh để chia sẻ công việc, giúp phát triển kỹ năng và tình cảm xã hội của trẻ.
	Khi giải thích cho trẻ, chúng ta nên nhẹ nhàng để trẻ thấy được thiện chí và dễ dàng nghe theo. Các cô giáo cũng nên linh hoạt trong khi giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. Không trẻ nào thích bị áp đặt suy nghĩ phải làm gì nên nếu cứ tiếp tục ép buộc thì chúng ta sẽ chỉ nhận được sự phản kháng và tác dụng ngược lại từ trẻ mà thôi. Để giáo dục kỹ năng hợp tác cho trẻ tôi luôn tạo cơ hội cho trẻ chơi và làm việc theo nhóm với các trẻ khác trong tất cả các hoạt động.
	Ví dụ: Cho trẻ thảo luận theo tổ để cùng nhau nhận xét về đặc điểm của một đối tượng nào đó trong các hoạt động, tạo những cảm nhận giúp trẻ tôn trọng những quyền lợi của trẻ khác qua việc chia sẻ, hướng dẫn trẻ cư xử lịch sự với bạn khác.
	Ngoài ra, tôi còn trò chuyện, thảo luận với trẻ về sự hợp tác như: “con và bạn đã cùng nhau làm những việc gì? Trò chơi nào con thích hơn khi có bạn cùng chơi? Tại sao con phải hợp tác với bạn, một mình con có làm được việc này không? Điều gì con cảm thấy vui khi hợp tác?”...Qua việc trò chuyện giúp trẻ hiểu hợp tác là có nhiều người cùng thực hiện một việc nào đó, cùng vui thích khi làm việc.
	Rèn luyện sự hợp tác của trẻ thông qua trò chơi như: Trò chơi “đôi bạn hợp tác” cho trẻ tìm thêm một bạn để ghép đôi với nhau; trò chơi “những chiếc tháp tập thể” yêu cầu trẻ ngồi xung quanh một cái bàn và đưa cho trẻ những khối đồ chơi có hình dạng và kích thước khác nhau. Ngoài ra, tôi còn trưng bày các hình ảnh sưu tập có nội dung mọi người cùng chơi, làm việc với nhau, và cho trẻ thảo luận nội dung của các hình ảnh đó, thông qua bài thơ, câu chuyện như: “Nhổ củ cải”, “Gấu qua cầu”, “Đôi bạn tốt”… (H 6 – Tr10)
	3.4.3 Hình thành kỹ năng giao tiếp và quan hệ xã hội
	Trẻ mầm non cần phải học rất nhiều trong những năm đầu đời: học cách làm chủ ngôn ngữ, học cách nhận biết và đối phó với cảm xúc của mình cũng như của người khác, học cách tin vào mình và can đảm để khám phá thế giới rộng lớn xung quanh. Nếu trẻ không đạt được năng lực xã hội tối thiểu vào khoảng 6 tuổi thì trẻ có thể gặp khó khăn trong suốt cuộc sống sau này.	
	Phát triển kỹ năng này là một nhiệm vụ phức tạp đối với trẻ. Yêu cầu trẻ biết ứng xử theo quy tắc xã hội, biết tạo các mối quan hệ cũng như tương tác với cảm giác thoải mái với những người khác đồng thời biết điều chỉnh hành vi phù hợp với hoàn cảnh. Để giáo dục tốt cho trẻ nội dung này tôi thực hiện một số biện pháp sau: 	
Dạy trẻ học cách kiểm soát xung đột và điều chỉnh hành vi của mình. Tôi làm cầu nối giúp trẻ biểu lộ cảm xúc của mình và biết lắng nghe ý kiến của người khác. Nếu trẻ bất hòa với bạn khác tôi thường chỉ cho trẻ thấy trẻ chưa đúng ở điểm nào, điểm nào cần khắc phục và điểm tốt nào cần phát huy. Cho trẻ thấy những mối bất hòa thường dẫn đến những cảm xúc tiêu cực như tức giận, sợ hãi, còn nếu chơi đoàn kết với bạn sẽ tạo nên những tình cảm tốt đẹp và tinh thần thoải mái vui vẻ…
	Ví dụ: Có 2 trẻ đánh nhau, điều đầu tiên cần làm là hỏi 2 trẻ lí do vì sao lại như vậy để từng trẻ có cơ hội thể hiện suy nghĩ bằng lời nói về việc đó. Sau đó giải thích cho trẻ hiểu bạn nào đúng bạn nào chưa đúng. Giáo dục trẻ lần sau chơi đoàn kết với bạn hơn.
	Dạy trẻ cách giải quyết vấn đề: mỗi tình huống khó khăn mà trẻ gặp phải sẽ có tác dụng giúp trẻ lĩnh hội được kinh nghiệm sống thông qua việc tìm cách giải quyết vấn đề đó. Cho nên với mỗi tình huống xảy ra hằng ngày tôi đều tận dụng cho trẻ quan sát và gợi ý để trẻ tìm ra cách giải quyết một cách nhanh chóng và hiệu quả nhất. (H 7 – Tr10 )
	Ví dụ: Khi trẻ làm lăn đồ dùng vào gầm tủ mà tay không với tới được tôi gợi ý để trẻ biết dùng gậy để lấy đồ dùng đó ra…
	Tạo cho trẻ cơ hội tham gia vào các mối quan hệ với trẻ khác: nếu trẻ tương tác với nhau một cách phù hợp qua đó trẻ sẽ học được các quy tắc ứng xử trong xã hội. Vì vậy, tôi thường xuyên tổ chức các hoạt động tập thể cho trẻ trong lớp như tổ chức sinh nhật, biểu diễn văn nghệ tổng hợp cuối chủ đề, hoạt động góc… để các trẻ được làm việc theo nhóm với nhau. Trong quá trình hoạt động luôn khuyến khích trẻ giao tiếp thỏa thuận với bạn cùng chơi, biểu lộ mong muốn một cách thích hợp, biết giúp đỡ bạn trong khi chơi. 
	Ví dụ: Giúp trẻ biết quan tâm và chia sẻ với người khác như: hoạt động “chúc bạn chóng khỏe”. khi trong lớp có một trẻ bị ốm không đến lớp được. Tôi sẽ tổ chức cho trẻ cả lớp làm một tấm thiệp để gửi lời thăm hỏi và chúc bạn nhanh khỏe rồi gởi tới bạn bị ốm.
	3.4.4 Hình thành kỹ năng học tập
	Mặc dù những kiến thức mà trẻ học ở trường mầm non chỉ là sơ đẳng nhưng có vai trò rất quan trọng, là nền tảng cho việc học văn hóa ở trường tiểu học sau này. Với trẻ ở lớp tôi, trong mỗi hoạt động tôi đều xác định cụ thể mục tiêu, hướng dẫn cụ thể nội dung, gợi ý cách thực hiện và cho trẻ trao đổi cách thực hiện với bạn để trẻ tìm ra cách thực hiện của riêng mình, đồng thời tôi cũng khuyến khích và tuyên dương kịp thời sự sáng tạo của trẻ, giúp đỡ những trẻ thực hiện kém, động viên trẻ cố gắng thực hiện tốt nhiệm vụ được giao với tâm trạng thoải mái và hứng thú nhất. (H 8 – Tr11 )
	Ví dụ: Trong hoạt động tạo hình vẽ ngôi nhà (theo đề tài). Tôi cho trẻ quan sát và nhận xét một số tranh vẽ ngôi nhà đã chuẩn bị trước để gợi ý cách vẽ cho trẻ. 	
3.5 Giáo dục kỹ năng sống thông qua các hoạt động trong ngày
Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ phải gắn với các việc làm, tình huống cụ thể: trẻ được quan sát người khác làm, trẻ được tự thực hiện để trải nghiệm. Sự trải nghiệm nhiều lần sẽ giúp trẻ nhận thấy ý nghĩa thiết thực của việc làm, từ đó trẻ sẽ chủ động vận dụng các kỹ năng cần thiết vào từng tình huống cụ thể trong cuộc sống. Hàng ngày, chúng ta có thể thông qua nhiều hình thức, các hoạt động khác nhau:(H 9-Tr11 ) 
	Ví dụ: Giờ ăn, cô dạy trẻ ăn uống văn minh như: biết mời cô, mời bạn trước khi ăn; trong khi ăn mà ho, hắt hơi phải lấy tay che miệng lại, biết nhặt thức ăn rơi bỏ vào đĩa đựng cơm rơi, biết dọn dẹp bàn ghế …(H 10 – Tr11 )
	Thông qua xem phim, nghe kể chuyện: nội dung các bộ phim, câu chuyện phù hợp sẽ là gợi ý cho trẻ về cách cư xử đúng, cách giải quyết vấn đề hiệu quả.
	Thông qua hoạt động sáng tạo: Với trò chơi đóng vai, trẻ “nhập vai” và giải quyết tình huống giả định, giúp trẻ tập các kỹ năng sống một cách nhẹ nhàng, thú vị. 	
Ví dụ: đi siêu thị mà bị lạc thì trẻ làm gì? Làm hỏng đồ chơi của bạn trẻ sẽ làm thế nào?…
	Như vậy, việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ ngay từ khi còn nhỏ là việc làm cần thiết và có ý nghĩa thiết thực. Mỗi trẻ có những yếu tố cá nhân khác nhau và sự ảnh hưởng của các quan hệ xã hội cũng như hoàn cảnh sống, môi trường trải nghiệm khác nhau nên nhà giáo dục cần có những hình thức, biện pháp linh hoạt, hợp lý và tận dụng các điều kiện để tạo ra nhiều cơ hội cho trẻ được tự trải nghiệm. Với kỹ năng sống phong phú trẻ sẽ biết cách khai thác kiến thức từ cuộc sống xung quanh, tạo lập các mối quan hệ với tự nhiên và con người để sống an toàn, hòa bình và phát triển.
	3.6 Chú ý giáo dục cá nhân
	Mỗi cá nhân trẻ là mỗi đặc điểm, tính cách khác nhau. Cho nên muốn đạt được mục tiêu ban đầu đặt ra là hình thành các kỹ năng sống cho trẻ, thì tôi luôn phải chú ý đến giáo dục cá nhân.
	Với những trẻ nhút nhát, thiếu tự tin thì tôi thường xuyên gần gũi, trò chuyện với trẻ, đặt những câu hỏi để trẻ có thể nói nhiều về bản thân, tạo cho trẻ cảm giác trẻ được quan tâm. Khi nói chuyện tôi sẽ gọi tên trẻ để trẻ cảm thấy mình quan trọng và tự tin hơn. Bên cạnh đó, tôi sẽ tạo điều kiện để trẻ có thể trò chuyện với bạn bè lớp khác, với những người lớn làm việc trong trường. Ngoài ra, tôi sẽ không quên giao cho trẻ những công việc vừa sức để trẻ có sự thành công, kết hợp động viên, khen ngợi … nhằm hình thành tính tự tin, chủ động ở trẻ.
	Với những trẻ được gia đình quá nuông chiều, làm thay mọi việc từ vệ sinh cho đến các kỹ năng tự phục vụ thì tôi đặc biệt dành nhiều thời gian quan tâm, thường xuyên tạo những tình huống để trẻ tự làm mọi việc phục vụ bản thân và khen ngợi khi trẻ làm được. Đối với những trẻ này không nên nóng vội, ép trẻ làm mà hãy để trẻ tự nguyện làm cùng với các bạn của mình….
	Trong cuộc sống học đường, sự mâu thuẫn giữa bài giảng trên lớp và hành động của giáo viên sẽ để lại trong tâm trí trẻ những ấn tượng không tốt cho quá trình phát triển toàn diện của các em sau này. Giáo trình kỹ năng sống cho trẻ là sự tổng hợp trên chương trình khung do Bộ Giáo dục và đào tạo ban hành. Mỗi giáo viên sẽ dựa trên đó và tự làm giáo án kỹ năng sống cho trẻ của riêng mình sao cho phù hợp với tình hình lớp học. Chính vì vậy, tôi luôn nhắc bản thân phải là những tấm gương tốt để trẻ nhìn vào. Cô giáo phải là người tiên phong, là tấm gương sáng cho trẻ noi theo, chính vì vậy hãy luôn chú ý đến mọi lời nói và hành động của mình mọi lúc mọi nơi.
	Ví dụ: Đối với những trẻ quá hiếu động trong quá trình học, lượng kiến thức tiếp thu của trẻ so với lượng kiến thức các giáo viên giảng dạy chênh lệch không ít. Lúc này tôi đã điều chỉnh lại giáo trình kỹ năng sống cho trẻ sao cho phù hợp. Trước tình huống này, tôi luôn tự mình làm chủ cảm xúc, lường trước những khó khăn sẽ gặp phải khi dạy trẻ, từ đó có các phương thức giải quyết phù hợp và tương ứng, tránh để mình bị động khi lớp học diễn ra không như ý muốn. Sau những lần sai ở đâu tôi đã ghi vào giáo án rèn kỹ năng sống cho trẻ để lần sau rút kinh nghiệm và tìm ra phương pháp rèn luyện phù hợp nhất với từng trẻ.
	Tóm lại, với từng đối tượng trẻ, tùy vào cá tính của chúng mà tôi sẽ có những biện pháp giáo dục nghiêm khắc hay những lời nói ngọt sao cho thật phù hợp, nhằm tạo mọi điều kiện để hình thành các kỹ năng sống cho trẻ.
3.7 Thực hiện tốt công tác tuyên truyền với phụ huynh
Để giúp trẻ hình thành và rèn luyện tốt các kỹ năng sống thì gia đình đóng vai trò rất quan trọng, sự cộng tác của phụ huynh là việc làm vô cùng cần thiết. Chính vì vậy, tôi thường xuyên gặp gỡ với phụ huynh để nắm bắt tình hình cháu ở nhà, cũng như cùng trao đổi để đưa ra các biện pháp giáo dục cháu tốt nhất. 
Đặc biệt là với những bậc cha mẹ quá nuông chiều con, tôi sẽ làm cho họ hiểu rằng đó không phải là cách yêu thương con tốt, mà cách tốt nhất là hãy rèn cho trẻ những kỹ năng sống cần thiết để trẻ có thể thích ứng trong mọi hoàn cảnh, lúc không có ba mẹ hay người thân, và những kỹ năng đó sẽ theo trẻ đến suốt cuộc đời. 
Hoặc với những bậc phụ huynh có con em nhút nhát, thiếu tự tin thì tôi sẽ cùng trò chuyện để đưa ra một số biện pháp phù hợp giúp trẻ tự tin, chủ động hơn trong cuộc sống như: cho trẻ tham gia các hoạt động tập thể ở trường, ở nơi trẻ sống để trẻ có cơ hội phát huy hết khả năng của mình và hòa đồng với mọi người xung quanh; khuyên phụ huynh dành nhiều thời gian hơn để chơi với trẻ, lắng nghe trẻ, không la mắng mà hãy động viên, khuyến khích khi trẻ làm chưa được, đặc biệt là tạo cho trẻ môi trường gia đình hạnh phúc, luôn là tấm gương để trẻ noi theo… 
	Bên cạnh đó, tôi vận động phụ huynh ủng hộ những nguyên vật liệu phế thải như: hủ sữa chua, chai nước rửa chén, hộp phômai… tôi sẽ cùng trẻ làm đồ dùng đồ chơi, qua đó trẻ sẽ học được cách tự tạo niềm vui, lòng tin là mình sẽ làm được và ý thức bảo vệ môi trường.
	4. Hiệu quả của đề tài
Qua một thời gian thực hiện và theo dõi, tôi nhận thấy những biện pháp trên rất có hiệu quả, học sinh lớp tôi có chuyển biến rất rõ rệt, đặc biệt trẻ tự tin và khéo léo hơn. Kết quả đạt được như sau:
4.1 Về giáo viên
	Đã nắm vững phương pháp đặc trưng của bộ môn, vận dụng phương pháp linh hoạt, tổ chức hoạt động kỹ năng sống tự nhiên, thu hút được sự chú ý của trẻ, luôn là tấm gương cho trẻ noi theo. Đặc biệt trong năm học này, với hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ tôi đạt xuất sắc trong hội thi giáo viên dạy giỏi cấp trường, được đồng nghiệp tín nhiệm.
4.2 Về phía phụ huynh 
Phụ huynh đã hiểu được tầm quan trọng của giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5 - 6 tuổi, đã chú ý đến việc học giáo dục kỹ năng sống cho trẻ, mạnh dạn giao việc cho trẻ làm, quan tâm trò chuyện đến trẻ nhiều hơn, hạn chế cho trẻ chơi điện thoại và thao tác trên máy tính bảng, xem ti vi… 
	4.3 Về phía trẻ
	Trẻ mạnh dạn trong giao tiếp, thể hiện được suy nghĩ của cá nhân với mọi người, đã biết cách tự bảo vệ trước những tình huống nguy hiểm, có kỹ năng làm việc theo nhóm... và đặc biệt trẻ rất thích tham gia vào hoạt động kỹ năng sống.
Quá trình khảo sát, tôi thu được kết quả như sau:
* Kết quả so sánh đối chứng

STT	

Nội dung	Chưa áp dụng biện pháp	Đã áp dụng biện pháp
		Đạt	Chưa đạt	Đạt	Chưa đạt
		Số trẻ	Tỉ lệ	Số trẻ	Tỉ lệ	Số trẻ	Tỉ lệ	Số trẻ	Tỉ lệ
11	Mạnh dạn tự tin trong giao tiếp 	15/39	38,5%	24/39	61,5%	37/39	94,9%	2/39	5,1%
22	Kỹ năng tự tin trong công việc	16/39	41%	23/39	56%	34/39	87,2%	5/39	12,8%
33	Kỹ năng học tập 	18/39	46,2%	21/39	53,8%	33/39	84,6%	6/39	15,4%
44	Giao tiếp và quan hệ xã hội	14/39	35,9%	25/39	64,1%	36/39	92,3%	3/39	7,7%
55	Trẻ tích cực tham gia vào hoạt động	17/39	43,6%	22/39	56,4%	37/39	94,9%	2/39	5,1%

	III. KẾT LUẬN
	1. Đúc kết lại những vấn đề đã trình bày
	Trẻ mầm non là độ tuổi giúp trẻ rèn kỹ năng cũng như thói quen của bản thân tốt nhất. Chính vì thế có khá nhiều kỹ năng sống cho trẻ em có hoạt động đơn giản phù hợp với lứa tuổi này. Và trên thực tế, kỹ năng sống của trẻ lứa tuổi mầm non chính là giao tiếp tốt, biết vui chơi với bạn, biết xin lỗi hoặc cảm ơn đúng lúc, dễ thích nghi với môi trường khác nhau….Một đứa trẻ chờ đến lượt chơi sẽ là người biết kiên nhẫn, một đứa trẻ được tập thích nghi với đám đông sẽ trở thành người biết tự chủ và tự tin sau này. Đó chính là những lợi ích về lâu dài để các bậc phụ huynh ngày nay quan tâm nhiều hơn đến việc trang bị kỹ năng sống cho con ngay từ tuổi mầm non. Cũng cần nói thêm rằng trẻ nhỏ chỉ có thể tích lũy kỹ năng sống thông qua những trải nghiệm thực tế. Trong mỗi đứa trẻ đều có những tài năng tiềm ẩn. Sự chuẩn bị kỹ càng từ lúc đầu đời chính là chìa khoá thành công cho tương lai của mỗi trẻ. 
	Những giải pháp trên tôi đã vận dụng vào việc tổ chức giáo dục kỹ năng sống ở lớp tôi và tôi nghĩ rằng những giải pháp tôi đưa ra đơn giản mà giáo viên nào cũng có thể áp dụng được. Mặc dù đã được những kết quả đáng kể trên nhưng bản thân tôi vẫn không ngừng bồi dưỡng chuyên môn cho mình, tiếp tục phát huy những gì đã đạt được, đã làm được, những gì còn tồn tại thì cần phải khắc phục để nâng cao chất lượng giáo dục ngày càng tốt hơn.
	2. Đề ra những biện pháp triển khai, áp dụng đề tài vào thực tiễn
Hội đồng khoa học của nhà trường đưa đề tài vào cuộc họp chuyên môn của tổ, trường, có kế hoạch dự giờ, đánh giá hiệu quả đề tài, công nhận kết quả tầm quan trọng của đề tài “ Giải pháp tối ưu giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5 – 6 tuổi lớp A2 Trường mầm non Vạn Giã” sớm đưa vào thực tiễn.
	3. Kết luận, kiến nghị
	3.1 Kết luận
Từ những kết quả đã đạt được thì khi tổ chức hoạt động “Dạy kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi” tôi phải chú ý những vấn đề sau:
 Tìm hiểu, xác định những kỹ năng sống nào thực sự là cần thiết, phù hợp đối với trẻ 5-6 tuổi để từ đó có các biện pháp giúp đỡ trẻ.
 Chuẩn bị đầy đủ đồ dùng cần thiết cho cô và trẻ trong một hoạt động, đồ dùng đó phải đảm bảo yêu cầu về thẩm mỹ và độ an toàn với trẻ. Điều này rất quan trọng trong việc kích thích tính tò mò, khám phá của trẻ.
Tác phong cô phải tự tin, nhẹ nhàng, gần gũi với trẻ. Cô cần thể hiện sự quan tâm, động viên, khuyến khích trẻ phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo của bản thân. Cần nắm bắt tâm lý, nhận thức và cá tính của từng trẻ để có những tác động giáo dục phù hợp. Ngoài ra, giáo viên phải có kế hoạch tự học, tự nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; không ngừng rèn luyện tác phong sư phạm, học hỏi, trau dồi kinh nghiệm từ các đồng nghiệp...
Trên đây là một số kinh nghiệm trong việc tổ chức hoạt động “Dạy kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi”, mà tôi đã rút ra được trong quá trình giảng dạy nhằm giúp trẻ hoàn thiện nhân cách bản thân.
3.2 Kiến nghị
Xin được đề xuất với Phòng giáo dục, Sở giáo dục & đào tạo chọn những sáng kiến kinh nghiệm hay phổ biến rộng rãi cho chúng tôi được tham khảo và học tập. Hàng năm hỗ trợ, tạo điều kiện cho giáo viên đi dự giờ, học tập các trường bạn.	
	4. Hướng phát triển của đề tài
Đề tài có thể nhân rộng ở các lớp 5-6 tuổi trong toàn trường và những năm tiếp theo.

XÁC NHẬN CỦA ĐƠN VỊ
Hiệu trưởng	Vạn Giã, ngày 30 tháng 11 năm 2018
Người viết



Đỗ Quốc Anh

HÌNH ẢNH MINH CHỨNG